6.6.16
30.8.12
Thomas Trở Về
Đêm qua tôi lại mơ thấy Thomas. Từ khi 19 tuổi, cách đây đã hơn sáu năm, tôi vẫn mơ về Thomas, ít nhất vài tháng một lần. Lúc này, thực ra tôi mới tỉnh dậy, như thể bước ra từ giấc mơ, vừa chào tạm biệt Thomas. Và việc đầu tiên tôi làm gần như ngay sau đó là bật máy vi tính, viết thư cho Lee, em gái của Thomas, bởi đêm qua tôi cũng gặp Lee, lần đầu tiên trong mơ.
“Chính cuộc gặp ảo không bình thường đó đã mang lại cảm hứng để anh viết thư này, Lee”, tôi viết.
Tôi muốn chia sẻ với Lee một chuyện kỳ lạ, là bây giờ tôi chỉ có thể nhớ lại vài ba trong rất nhiều giấc mơ về Thomas, nhưng tôi biết chắc một điều: những giấc mơ ấy giống nhau ở chỗ: Thomas luôn trở về với tôi bởi một mục đích nào đó, thường là để giải thích những bí ẩn của cuộc đời, để tôi có thể sống sâu sắc hơn.
Những lần trở về với tôi, Thomas luôn với dáng vẻ bình thản, trong khi tôi là kẻ đang bối rối, bồn chồn về một điều gì đó - không có gì cụ thể mà đại loại là dễ nhầm lẫn - về thế gian này. Và bao giờ vẫn vậy, Thomas trở về là để giải thích, như thể anh ấy đã thấu hiểu những gì tôi chưa hiểu thấu. Trong mơ, tôi thường gặp Thomas ở những nơi tôi chưa bao giờ đến, và không nhận ra ở những nơi đó nét quen thuộc nào của không gian tôi đang sống thực mỗi ngày. Nên đôi khi tôi tự hỏi, Thomas về với tôi hay Thomas đưa tôi đến thế giới của Thomas?
*
Tôi cũng muốn Lee biết đêm qua Lee và tôi đã sống giữa đôi bờ của mộng và thực, của quá khứ và hiện tại, của âm và dương. Đêm qua tôi có mặt ở nhà của gia đình Lee, trên phố Freemason. Lúc đó có rất nhiều thanh niên đến, bởi nhà đang có tiệc, như những tiệc lớn Thomas từng có. Điều kỳ lạ là tôi không cùng độ tuổi với những người vốn cùng trang lứa trước đây, mà lại ở tuổi hiện có. Tất nhiên Thomas cũng có mặt, anh ấy trẻ hơn tôi nhiều và cư xử như tôi vẫn nhớ anh ấy của ngày xưa: thân thiện, hài hước, đầy sức sống. Và chúng tôi nói chuyện với nhau giữa đám đông vui nhộn. Tôi cảm giác như đã bước vào quá khứ - quãng thời gian trước khi Thomas mất. Cố đùa giỡn với anh ấy, nhưng lòng tôi rất buồn, vì tôi ý thức rằng Thomas lúc này và trước mắt tôi là không có thật, chẳng có gì có thật ở đó cả. Nhưng vẻ như Thomas không nhận thấy điều ấy.
Thomas đưa tôi lên cầu thang, vừa đi vừa nói chuyện, giờ tôi chưa nhớ ra là chuyện gì. Và hình như lúc ấy tôi cũng không tập trung lắng nghe, bởi từ xa tôi đã nghe thấy tiếng bố anh ấy trong văn phòng ở tầng hai. Bác đang sôi nổi nói chuyện công việc qua điện thoại với ai đó, khác hẳn hình ảnh bác mà tôi vẫn nhớ khi hai bác cháu gặp nhau lần cuối: im lặng, buồn bã, nước mắt rưng rưng. Bởi vậy, tôi tin rằng lần gặp trong mơ này giữa tôi và bác là một phần quá khứ, trước khi Thomas mất. Vậy là bác cũng không có thật.
Bỗng tôi bắt gặp Lee đứng yên gần đầu cầu thang, nơi dẫn vào hành lang tầng hai. Mắt Lee nhìn vào mắt tôi như thầm chia sẻ điều bí ẩn: “Anh và em thuộc về một thế giới khác, thế giới không có Thomas...”. Tôi đã nhận ra điều đó từ trước, giờ có thêm Lee nữa, nhưng không vì vậy mà tôi thấy đỡ cô đơn ở đây, đỡ đau lòng bên cạnh một Thomas không hiện hữu. Trái lại. Không ai khác ngoài tôi và Lee biết rằng không chỉ Thomas, mà cả ngôi nhà đang sôi lên tiếng người chào hỏi cười nói, những thanh niên vui vẻ, bữa tiệc thân mật, thậm chí cả những thành viên trong gia đình Lee nữa đều là một phần quá khứ, đều chỉ là trong mơ.
*
Thomas quay xuống tầng trệt, còn tôi nán lại, cố bắt chuyện với Lee. Tôi không biết nên nói gì với Lee sau chừng ấy năm không gặp lại nhau. Tôi bị xúc động. Thực ra tôi chỉ có ý định lên gác tìm gặp bố của Thomas. Tôi muốn gặp bác một lần nữa vì tôi cảm thấy như đã bỏ rơi gia đình bác sau khi Thomas mất. Vậy rồi Lee xuất hiện trên lối đi một cách bất ngờ. Khi đối mặt với em gái của Thomas, dẫu không chờ đợi, tôi cũng trong tâm trạng có lỗi, như tôi sẽ như thế nếu gặp người bố của họ theo ý định ban đầu. Bởi có thể nói tôi cũng đã bỏ rơi Lee, theo một cách nào đó. Cuối cùng, tôi bắt đầu nói với Lee, giọng không giống tôi chút nào: “Hẳn em phải đau lòng lắm, vì anh là bạn thân nhất của Thomas, và em biết đấy, anh cũng chẳng khá hơn…”.
Tôi chỉ nói vài câu chung chung, đại loại như thế, thậm chí ngắc ngứ, tối nghĩa. Tôi vốn không giỏi ăn nói, không có khả năng bày tỏ nỗi lòng bằng lời, huống gì lúc ấy tôi sắp bật khóc. Trong giấc mơ trông Lee giống như tôi vẫn tưởng tượng vào những ngày này: nhiều tuổi hơn, trưởng thành hơn, và nghiêm trang hơn với cuộc sống. Thomas vĩnh viễn là anh trai của Lee, nhưng bây giờ Lee đang có nhiều tuổi hơn anh ấy, cả tôi cũng vậy. Vừa nói chuyện tôi vừa nhận ra vẻ điềm tĩnh chấp nhận thực tế đau buồn nơi Lee, dù nỗi đau mất mát người thân trong tâm khảm sẽ không bao giờ hóa sẹo. Trong khi chính tôi vẫn đeo mang gánh nặng mặc cảm tội đồ, rằng đáng ra tôi đã có thể làm nhiều hơn cho Thomas khi anh ấy còn sống, cho cả Lee ngày trước và bây giờ nữa.
Thư cho Lee, lần đầu tiên tôi viết ra điều luôn ám ảnh tâm trí tôi, không buông tha tôi sau bao năm, ấy là lần gặp cuối cùng giữa tôi và Thomas.
*
Tối hôm ấy, khoảng mấy tuần trước khi Thomas mất, tôi đột nhiên gặp anh ấy. Trên đường từ nhà ở trung tâm thành phố tôi đạp xe đạp đến khu Ghent, hay một nơi nào gần đấy, và tình cờ trông thấy Thomas đứng một mình ở góc phố vắng. Tôi dừng xe, ngạc nhiên chào. Thomas tỏ vẻ rất mừng rỡ khi gặp được tôi, nhưng tôi chia tay anh gần như ngay lúc đó. Sau này mỗi lần nhớ lại, tôi đều nhận ra Thomas đã không muốn tôi bỏ đi, còn tôi thì vội vã, mệt mỏi, mải nghĩ đến một việc gì đấy, mà giờ không chắc là nó có quan trọng đến mức phải bỏ Thomas đứng lại một mình nơi góc phố hay không. Rồi khi đột ngột nhận được tin Thomas mất, tôi nhớ ngay đến tối hôm đó và hiểu vì sao tôi đã có cảm giác Thomas muốn níu giữ một người bạn thân như tôi ở lại bên anh. Cho nên thật dễ hiểu nếu mỗi khi nghĩ đến cái chết của Thomas, và cả cuộc sống của chúng tôi thời đó nữa, lòng tôi lại nhói đau, lại tự trách mình vô cảm. Tôi hình dung tâm trạng của một chàng trẻ tuổi cô đơn, sống trong nỗi đau khổ tuyệt vọng, không chạy trốn khỏi nó được, cũng không vượt qua nó nổi. Vậy mà kỳ lạ thay, trong những giấc mơ của tôi, mọi chuyện khác hẳn, như tôi đã viết cho Lee: “Rằng chính anh đây mới là kẻ bối rối, lạc hướng trên những nẻo đường đau khổ, trong khi Thomas luôn cười tươi và hiểu thấu tất cả”.
*
Sao tôi lại viết thư cho Lee sau khi để nhiều năm trôi qua trong im lặng?
Thực sự tôi cũng không biết nữa. Có lẽ giấc mơ đêm qua khiến tôi xúc động, muốn nói với Lee những điều chưa kịp nói, hoặc không thể nói thành lời trước mặt Lee lúc ấy. Tôi viết thư là để nối dài giấc mơ đã tỉnh.
Nhưng tôi tin là tôi viết thư nhằm mong Lee hiểu rằng đến nay tôi vẫn chưa biết gì nhiều về những điều đã xảy ra cho Thomas, hoặc những cảm giác Thomas đã phải trải qua, trước và sau buổi gặp tình cờ, cũng là cuối cùng đó. Tôi muốn thú nhận với Lee rằng tôi đã không liên lạc với Thomas cả mấy tuần trước khi anh ấy mất.
*
Tôi đã quen Thomas từ hồi học lớp ba, hoặc còn sớm hơn thế, do đó có rất nhiều kỷ niệm với Thomas, rồi cả với Lee sau đó. Có lẽ đấy chính là lý do tôi chưa bao giờ thanh thản từ sau khi Thomas mất. Tôi viết như thể đang xưng tội với Lee: “Anh đã bỏ rơi anh ấy, cũng như đã bỏ rơi cả em nữa. Thật sự là anh đã rất muốn đến thăm gia đình em sau cái chết của Thomas, muốn viết rất nhiều cho em, nhưng hồi ấy anh chỉ mới lên 19 tuổi, anh đã quá sợ hãi”.
Tôi vẫn nhớ bố mẹ Thomas đã coi tôi như một thành viên của gia đình, và tôi hay ăn tối cùng họ. Tôi nhớ những bữa tiệc sinh nhật của Thomas, nhớ khi anh ấy cắt tóc cho tôi ở sân nhà, nhớ chú chó khá to tên “Rex” của gia đình, nhớ bố Thomas thường nhắm một ly rượu màu hổ phách ở phòng khách vào mỗi tối... Nhớ có lần Thomas đã cưỡi ván trượt từ nhà đến nhà tôi, một quãng đường khá xa, chỉ để trò chuyện vu vơ với tôi và cùng nhau xem ti vi. Cũng nhớ những buổi sáng Thomas và Lee đón tôi đến trường trên chiếc ô tô màu xanh da trời nhạt của anh ấy. Thomas lúc nào cũng bật máy sưởi ô tô đến mức nóng nhất có thể. Còn rất nhiều điều về Thomas và về Lee mà tôi vẫn nhớ, sẽ nhớ mãi, cũng như tôi đã quên khá nhiều điều về họ, hoặc khi nhớ khi quên.
Dù sao, khi viết thư cho Lee tôi đã quyết định sẽ tìm bằng được địa chỉ email của Lee qua bạn bè, để Lee có thể đọc. Tôi vẫn có thói quen viết cho riêng tôi, nhưng lần này khác. Tôi muốn chúng tôi chia sẻ thông tin về nhau trong đời sống. Rằng từ sau lần cuối gặp Lee, tôi đã tốt nghiệp đại học ở
Washington D.C, chuyển nhà đến California, kết hôn, rồi sang Việt Nam. Quan trọng hơn, tôi muốn Lee biết không bao giờ tôi nghĩ mình đã đúng khi chọn một cuộc sống mà không giữ liên lạc với gia đình Thomas.
*
Cuối thư, ngoài những lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, và ngoài lời nhắn gửi với gia đình Lee rằng tôi vẫn nhớ mọi người nhiều lắm và biết ơn tất cả những gì họ đã làm cho tôi ngày xưa, tôi đã hẹn với Lee, cũng là lời đề nghị chân thành: “Anh hy vọng chúng ta có thể gặp lại nhau một ngày nào đó trong tương lai, vào một dịp vui hơn, thực hơn, thay vì chỉ trong những giấc mơ của anh”.
Như một bù đắp cho Thomas, trước khi ký tên mình vào cuối thư, tôi đã viết dòng xưng hô thân thiết nhất có thể dành cho Lee lúc này: “Anh trai thứ hai của em”.
-Zac Herman
Thomas trở về thanhnien.com.vn
Đài Bắc 101
Tầng tám lăm của tòa nhà Đài Bắc 101. Nhìn qua tường kính, tôi thấy nó có vẻ không cao đến như đã tưởng khi ngắm nó từ xa, bên dưới. Dải mây mỏng màu xám tro nằm lơ lửng phía trên quang cảnh trong trẻo của thành phố lên đèn.
Khu đô thị dưới kia như quả tim mờ sẫm ngái ngủ đang được kích hoạt liên tục bởi mạng lưới tĩnh mạch, động mạch là những con đường lớn nhỏ đan xen chi chít, phát ra thứ ánh sáng vàng dịu sinh động. Và trên mạng lưới đó là hàng vạn đốm sáng trắng, vàng, đỏ của đèn pha, đèn hiệu, đèn chiếu hậu ô-tô nối đuôi nhau chuyển động ngược xuôi không dứt. Ai đó tại bàn nhận xét rằng những ánh đèn dưới kia lấp lánh như kim cương. Vâng, tôi cũng có thể tưởng tượng vậy.
Ở bên ngoài lớp kính trời lạnh thì phải, nhưng thật ra không có cách nào để biết chắc được cả. Nghe nói ở Đài Loan có nhiều cây xanh; thực sự là có. Phong cảnh ở đây ngắm từ xa thật đẹp. Ngọn núi lớn xanh biếc phủ màn sương mỏng gợi hình ảnh nhà sư ngồi thiền trong khuya vắng, và như thể đó không còn là cảnh thực, mà là bức tranh thủy mặc Trung Quốc cổ xưa.
Thường thì nhìn xuống bất kỳ thứ gì từ trên cao cũng thấy đẹp. Khoảng cách chiều thẳng đứng khiến mọi vật trở nên hiền hòa và xinh xắn hơn nhiều. Song, sau khi những giây phút đầy ấn tượng ban đầu đã qua, tôi thấy mình đang đứng ở đấy một mình trong tĩnh mịch của đêm, hai tay đút vào túi quần. Và dần dần nhận ra các tòa chung cư xung quanh đều bị phủ bồ hóng. Rất nhiều hộp tản nhiệt hình vuông, hình chữ nhật của máy điều hòa không khí treo một cách bấp bênh từ trên cao. Hàng trăm áo quần lót phơi trên các bao lơn. Có thể đây mới là Đài Loan thật sự. Tôi không chắc biết nữa. Ngày mai, sau khi đi Đài Nam, tôi sẽ hiểu rõ hơn về nơi này.
Còn bây giờ tôi cảm thấy hoàn toàn cách biệt thế giới thực bên ngoài. Lớp kính cường lực của công nghệ xây lắp hiện đại ngăn tách giữa tôi và cả một thành phố bên dưới mà tôi đang nhìn xuống. Tôi tự hỏi, liệu ở đây sẽ khiến con người cảm thấy sang trọng hơn hay chỉ làm tăng nỗi cô đơn cố hữu?
Tôi xin phép rời bàn, đi vào phòng vệ sinh, cố tập trung tư tưởng và tự trấn tĩnh. Bức tường ngay phía sau cái chậu rửa, từ sàn đến trần, vẫn là một mảng kính cường lực trong suốt. Nhưng ngoài kia là phong cảnh đẹp nhất mà tôi từng được ngắm trong khi đi tiểu. Bỗng nhiên tôi xúc động biết ơn.
-Zac Herman
Đài Bắc 101 laodong.com.vn
-Zac Herman
Đài Bắc 101 laodong.com.vn
25.3.12
Viết tiếng Việt để kết nối người Việt
Với chùm đoản văn từng đăng trên trang Sáng tác báo Thanh Niên Chủ nhật, Zac Herman đã gây cho người đọc một bất ngờ thích thú qua cách nhìn cuộc sống Hà Nội, và nhất là cách diễn đạt bằng Việt ngữ của một người Mỹ mới hai năm làm quen tiếng Việt.
Tiếng Việt và văn hóa Việt thẩm thấu vào tâm hồn một người nước ngoài như Zac qua cách thức nào? Chúng ta hãy trò chuyện cùng anh.
Anh có nghĩ viết tiếng Việt là con đường ngắn nhất để một người nước ngoài có thể khám phá tâm hồn người Việt?
Mặc dù ngôn ngữ là phương cách không thể thiếu để kết nối những người đến từ những nền văn hóa khác nhau, nhưng không hẳn là cách ngắn nhất. Mà đôi khi, ngôn ngữ còn tạo khoảng cách giữa bạn và những người bạn muốn kết giao. Một đầu óc cởi mở, ham hiểu biết, gây được lòng tin, tính hài hước và không ngại sai trong giao tiếp là những điểm cần thiết khi hội nhập một nền văn hóa hoàn toàn khác với văn hóa gốc của bạn.
Điều ấy đúng với tôi, viết tiếng Việt là cách hiệu quả nhất để kết nối với người Việt. Nhưng tôi cũng biết nhiều người nước ngoài sống ở Việt Nam, gần gũi và quen thuộc với văn hóa Việt Nam hơn tôi, vậy mà vốn liếng tiếng Việt của họ chẳng bao nhiêu, thậm chí không một chữ bẻ đôi. Vì vậy, tôi nghĩ khả năng viết tiếng Việt chỉ là một trong những kênh tiếp cận với tâm hồn Việt, thậm chí không hề là kênh hàng đầu.
Trong những bài viết bằng tiếng Việt đã công bố, anh bộc lộ một lối nghĩ, một vũ trụ quan rất phương Đông. Vậy văn hóa phương Đông có ảnh hưởng gì đối với anh trước và sau khi đến Hà Nội?
Văn hóa phương Đông có ảnh hưởng sâu sắc đến cách suy nghĩ của tôi, ngay từ khi tôi mới mười bốn tuổi. Đấy là khi tôi thuê một phim tài liệu về Tây Tạng tại thư viện thành phố quê tôi. Thời điểm đấy là bước ngoặt đã chuyển hướng cách nhìn của tôi và là sự khởi đầu cho một hành trình dài để phát triển cái tôi theo chiều hướng của triết học Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản. Suốt nhiều năm tiếp theo, tôi thuê và đặt mua hàng trăm sách, xem hàng chục phim truyện về châu Á, để rồi nhận ra tác động sâu sắc của văn hóa châu Á đối với Mỹ sau khi khái niệm này được giới thiệu vào Mỹ đầu thế kỷ 20. Sống ở Việt Nam cho tôi hiểu thêm văn hóa châu Á, hoặc ít nhất cũng là một phần diện mạo của văn hóa phương Đông.
Việc nghiên cứu văn học Việt Nam của anh đã gặp những thuận lợi và trở ngại nào? Bao giờ thì anh sẽ hoàn thành một phần cụ thể nào đó?
Tôi lấy làm tiếc phải nói rằng, ngoài đề tài chiến tranh Mỹ - Việt, việc truy tìm tư liệu về Việt Nam tại các thư viện và các nhà sách ở Mỹ rất bị hạn chế. Chỉ đến khi đặt chân đến đây tôi mới có thể thực sự bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam, cụ thể hơn, là về văn học Việt Nam. Hơn nữa, khối lượng thông tin chủ yếu về văn học Việt Nam được viết bằng tiếng Việt và chưa hề được dịch, trong khi đó, nghiên cứu học thuật về Việt Nam chỉ mới bắt đầu phát triển những năm gần đây.
Điều ấy cho thấy, để nghiên cứu văn học Việt Nam, người ta phải vừa lưu trú lâu dài hoặc thường xuyên lui tới đất nước này, vừa phải làm chủ được tiếng Việt; đó là chuyện khó và hiếm xảy ra trong cộng đồng người nước ngoài.
Tôi đặc biệt quan tâm đến phong trào Thơ Mới (1932-1945) của Việt Nam, dẫn đầu bởi những tên tuổi lớn như Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Xuân Diệu và nhiều thi sĩ trẻ tài năng khác. Sắp đến, tôi dự định xuất bản một tập “đoản văn” viết bằng tiếng Việt và một tập thơ dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh.
Hãy nói đôi điều về kinh nghiệm học tiếng Việt và lĩnh hội văn hóa Việt của anh.
Thật khó tin là trong năm đầu tiên ở Việt Nam tôi đã rất miễn cưỡng khi phải ra khỏi nhà. Tôi thấy khó để hiểu được tiếng Việt ngoài trường lớp và cố tránh nói tiếng Việt, vì sợ nói sai hay không hiểu những gì người ta nói với mình.
Một hôm tôi tìm thấy trên internet lịch các cuộc triển lãm văn hóa, mỹ thuật và trình diễn nghệ thuật được tổ chức hằng tuần. Tôi vừa ngạc nhiên vừa phấn khích khi nhận ra đời sống văn hóa, nghệ thuật ở Hà Nội rất năng động và tôi đã quyết định ra khỏi nhà để khám phá Hà Nội.
Liều lĩnh dấn thân trên đường phố với mục đích cụ thể như thế đã cho tôi niềm tin khi giao tiếp với mọi người. Tôi cũng bắt đầu chạy bộ quanh hồ Tây mỗi chiều sau giờ tan sở, mở trang blog để chia sẻ với gia đình, bạn bè, những người nước ngoài khác và cả người Việt Nam về những trải nghiệm và suy nghĩ của tôi. Một cách khiêm tốn, tôi có thể nói rằng Việt Nam đã dạy cho tôi nhiều điều trong suốt hai năm qua.
Cám ơn Zac, người bạn Mỹ rất Việt Nam, và mong anh sẽ tiếp tục đồng hành lâu dài với văn học Việt Nam, như một sứ giả văn hóa.
Ngô Thị Kim Cúc
Viết tiếng Việt để kết nối người Việt thanhnien.com.vn
24.1.12
Những trang văn tiếng Việt của Zac Herman
Cho đến nay, theo tôi biết đã có ba cây bút người nước ngoài viết tiếng Việt xuất hiện trên các báo Việt, một Canada - Joe Ruelle, hai Mỹ - Zac Herman và Brian Webb.
Cả ba đang sống và làm việc ở Hà Nội, đều là “du dân quốc tế lang thang giữa đời bao la” theo giọng tếu đặc hữu của Joe Ruelle (Dâu), cây bút một thời quen thuộc trên báo Lao Động Cuối tuần, có hẳn mục “Góc của Joe”. Tôi tìm đọc những người nói tiếng Anh viết tiếng Việt vì tôi là người Việt viết tiếng Anh.
|
Trong số “ba chàng ngự lâm” tiếng Việt, Joe và Brian viết báo, Zac viết văn. Joe đọc qua bản thảo tiểu thuyết của tôi, phán một câu: “Hay đấy, nhưng biên tập tiếng Anh nghiêm chỉnh phải mất từ ba đến sáu tháng, mà Joe lúc này kiếm đâu ra thời gian?”. Brian thì biên tập và cho đăng một truyện ngắn của tôi. Anh này làm với Literary Agents, những tổ chức chuyên biên tập và cung cấp bản thảo cho các nhà xuất bản Mỹ. Riêng Zac, gần một năm nay, viết được gì bằng tiếng Việt đều gửi tôi đọc, và dành thời gian sửa chữa, góp ý những gì tôi viết bằng tiếng Anh.
Nói ngay rằng tôi ngạc nhiên và bị thu hút bởi những trang văn tiếng Việt của Zac. Không như Joe vui nhộn kiểu Sắp 30 rồi, sắp “ế”, và Sắp hâm hâm giẫm phải mâm rồi, hay giỏi chơi chữ Như thế không thể gọi là nghiêm chỉnh, mà là sự nghiêm rất cần chỉnh..., Zac thì chú tâm làm văn chương bằng tiếng Việt. Đọc vài trích đoạn là có thể nhận ra chất văn trong câu chữ của Zac: Tôi đứng đấy dựa mình vào rào chắn bị mờ ngắm mãi ra màu đen rộng rãi. Những ngọn đèn đường quanh hồ bên kia tạo thành một ảo ảnh ấm áp. Nó đẹp hơn bên này. (Ai biết bay)
Hay: Tôi ngồi trên bậc cửa hút thuốc. Thường ngày tôi không hút thuốc, nhưng hôm nay trời lạnh đến mức khói cay trong phổi lại hun ấm như lửa trại. Đối diện nhà tôi có một quầy hàng nhỏ lợp mái thiếc bán gia vị. Không hiểu vì sao quầy hàng này thường xuyên đóng cửa, và vì sao nó khiến tôi tò mò. Tôi tưởng tượng một người ngồi đó, giữa lối ra vào, bán gia vị từ những lọ to lấm bụi đường. Tôi muốn hỏi người ấy một câu đơn giản như “làm gì đấy?” hoặc “bán gì đấy?” và chưa nghĩ được là sẽ hỏi thêm gì nữa, vì thực sự là chắc tôi sẽ không bao giờ có cơ hội hỏi gì cả. (Quầy bán gia vị)
Ban đầu, mục đích học tiếng Việt của Zac là để thấu hiểu “quê vợ” hơn và hiệu quả hơn trong công việc ở Việt Nam. Zac cho biết sau hai năm học tiếng Việt, đọc trôi chảy được sách Việt là vui lắm rồi, nhất là đọc thơ, và nhất nữa là thơ Xuân Quỳnh. Trước đây, Zac chưa bao giờ nghĩ đến chuyện viết văn bằng tiếng Việt. Nhưng rồi trong anh lớn dần nhu cầu chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc về cuộc sống ở Hà Nội. Và văn học theo anh là chiếc cầu vồng kết nối lộng lẫy nhất giữa các nền văn hóa, và cũng chân thực nhất.
Đôi khi tôi không hiểu vì sao Zac không làm thơ mà lại viết văn. Tôi đọc thấy niềm yêu thơ đặc biệt của Zac qua việc anh thu thập tư liệu chuẩn bị viết công trình nghiên cứu Phong trào Thơ mới Việt Nam 1932-1945. Anh dành hầu hết thời gian rỗi dịch những bài thơ Việt anh yêu thích sang Anh ngữ. Những nhà thơ anh đã dịch khá đa dạng như Thế Lữ, Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tố Hữu, Xuân Quỳnh... Nhưng tôi đã không hỏi vì sao, vì thỉnh thoảng tôi vẫn thấy thơ trong văn của Zac: Các đám mây đang bay này đều là bông tôi hái trong một cánh đồng cạnh rừng... (Mây bông, thang sậy).
Những truyện ngắn rất ngắn của Zac hàm chứa chiều sâu “đối thoại” Tây-Đông: Tôi vừa dừng xe máy lại bên đường chưa kịp xuống xe, chưa bỏ mũ. Bỗng tôi nhìn thấy một người đàn ông không mặc áo đang bước đến, tay phải cầm một con gà lủng lẳng, tay trái cầm một cái lồng có khoảng bốn năm con gà con như những cục bông vàng đang chiêm chiếp.
“Anh có phải là xe ôm không?” - người ấy vừa hỏi vừa cười ranh mãnh.
Mất vài giây tôi nhìn chằm chằm vào hàm răng khè đầy chất nicôtin. Cuối cùng tôi trả lời là không, tất nhiên là không, vì tôi là người nước ngoài. Tôi bị bối rối với một câu hỏi mà đáng lẽ không cần hỏi có thể biết luôn.
Người lạ tiếp tục bước qua tôi, vừa cười vừa nói lẩm nhẩm. Đột nhiên xe máy tôi lún xuống vì một cái gì đó đè nặng và tôi nhận ra anh ta đã ngồi lên xe tôi với cả con gà và lồng nữa. Sau khi hiểu chuyện đùa đó, tôi đồng ý.
“Thôi được, tôi có thể đưa anh đến nơi cần đi, nhưng có phí thì anh chắc không hài lòng.”
Người ấy cười, nghiêng rất gần tôi rồi hỏi, “Phí gì đấy?”.
“Một con gà”.
(Xe máy và con gà trên đường Láng)
Và đôi khi tôi cảm giác phương Tây có phần nhường chỗ cho phương Đông trong cách quan sát, suy ngẫm và cả bút pháp của Zac. Trước nhận xét ấy của tôi, nhà văn trẻ người Mỹ này cho biết từ 14 tuổi anh đã tìm đến văn hóa phương Đông: “Năm ấy, giữa biết bao phim tại thư viện trung tâm thành phố, tôi lại chọn thuê một phim video tài liệu về Tây Tạng. Đến giờ tôi vẫn không hiểu điều gì khiến tôi có chọn lựa như vậy. Nhưng tôi hiểu phương Đông đã thu hút tôi, dẫn dắt tôi tự mình lang thang vào hệ thống triết học Ấn Độ, Trung Hoa, cho đến khi tôi có cơ hội nghiên cứu phương Đông một cách bài bản tại trường đại học. Nhưng phải sau một thời gian sống và làm việc ở Hà Nội, những tri thức sách vở của tôi mới có cơ hội chứng thực và trải nghiệm bản thân. Thời gian tôi trưởng thành là ở Mỹ, nhưng gần đây tôi thấy mình giống một “công dân quốc tế” hơn chỉ là một người Mỹ. Cho nên, nếu trong văn của tôi đâu đó có sắc màu phương Đông thì đó là điều tự nhiên, là dòng chảy từ bên trong.”
Sáng tác mới nhất của Zac Herman là một vở kịch “tối giản”, một nét đặc trưng của kịch truyền thống phương Đông:
THU ĐÃ ĐẾN CHƯA?
Khung cảnh:
Hà Nội, đầu thế kỷ XX. Một quán càphê vỉa hè kiểu Pháp.
Nhân vật:
Ông 1- Người Châu Âu. Đang ngồi tại bàn có hai cái ghế bằng sắt.
Ông 2- Người Châu Âu. Cặp dưới nách tờ “Le Monde” cuộn tròn.
Hai ông đều mặc com-lê. Nói, cư xử lịch sự quá. Dù cung cách có phần không tự nhiên lắm, thậm chí lúng túng, nhưng họ vẫn cố tỏ ra thân thiện.
(Màn kéo lên)
Ông 1: [Giữa sân khấu. Đang ngồi tại bàn, hút thuốc thoải mái, chậm rãi nhấp càphê].
Ông 2: [Từ cánh trái ra. Vừa thong thả bước vừa chú tâm tới Ông 1, ngập ngừng một lát có vẻ trầm tư. Rồi, với giọng pha niềm tiếc nuối sẽ làm phiền Ông 1, nói...].
Ông 2: Xin làm phiền ông...
Ông 1: Xin ông cứ nói.
Ông 2: Làm ơn cho tôi hỏi...
Ông 1: Mời hỏi, mời hỏi. Xin tự nhiên...
Ông 2: Hơi ngớ ngẩn một chút...
Ông 1: Thưa ông, không thể thế được.
Ông 2: Vậy tôi sẽ...
Ông 1: Cứ hỏi thoải mái.
Ông 2: [Dừng lại vài giây] Thu đã đến chưa?
Ông 1: Chưa đến, chưa đến.
Ông 2: [Ngập ngừng] Ông có...?
Ông 1: Chắc chứ, chắc chứ.
Ông 2: [Ngập ngừng, vẻ băn khoăn, rồi đột ngột ngồi trên ghế đối diện Ông 1, không xin phép trước, như thể tin này đã khiến cho ông quên hết nghi thức của mình, sau đó lại thất vọng].
Tôi hiểu rồi.
Ông 1: [Đổi đề tài] Thế vẫn còn...
Ông 2: Mùa hè Hà Nội.
Ông 1: [Gật đầu] Chính xác.
Ông 2: Ông có nhớ...?
Ông 1: Là...?
Ông 2: Vâng, tôi nghĩ thế.
Ông 1: Hồi đó chúng ta có...?
Ông 2: Hồi đó nó đã...?
Ông 1: Thực sự là có.
Ông 2: [Kéo ra một chiếc khăn tay, lau rán]. Mùa hè...
Ông 1: [Gật đầu] Vâng, mùa hè.
Ông 2: Thật là...
Ông 1: [Vẫn gật đầu] Đúng đấy.
Ông 2: [Nhìn vào quầy] Em ơi! Một càphê đen.
[Quay lại Ông 1] Vâng, tôi vừa nói...
Ông 1: Ông vừa nói...
Ông 2: Ừ, nhớ rồi... [Ngập ngừng] Thu đã đến chưa nhỉ?
(Màn bắt đầu hạ xuống)
Ông 1: [Ngập ngừng hai ba giây như suy nghĩ, rồi có cử chỉ như sắp trả lời]
(Màn từ từ hạ xuống)
Ông 1: [Không kịp trả lời trước khi màn hạ xuống hẳn].
Khung cảnh:
Hà Nội, đầu thế kỷ XX. Một quán càphê vỉa hè kiểu Pháp.
Nhân vật:
Ông 1- Người Châu Âu. Đang ngồi tại bàn có hai cái ghế bằng sắt.
Ông 2- Người Châu Âu. Cặp dưới nách tờ “Le Monde” cuộn tròn.
Hai ông đều mặc com-lê. Nói, cư xử lịch sự quá. Dù cung cách có phần không tự nhiên lắm, thậm chí lúng túng, nhưng họ vẫn cố tỏ ra thân thiện.
(Màn kéo lên)
Ông 1: [Giữa sân khấu. Đang ngồi tại bàn, hút thuốc thoải mái, chậm rãi nhấp càphê].
Ông 2: [Từ cánh trái ra. Vừa thong thả bước vừa chú tâm tới Ông 1, ngập ngừng một lát có vẻ trầm tư. Rồi, với giọng pha niềm tiếc nuối sẽ làm phiền Ông 1, nói...].
Ông 2: Xin làm phiền ông...
Ông 1: Xin ông cứ nói.
Ông 2: Làm ơn cho tôi hỏi...
Ông 1: Mời hỏi, mời hỏi. Xin tự nhiên...
Ông 2: Hơi ngớ ngẩn một chút...
Ông 1: Thưa ông, không thể thế được.
Ông 2: Vậy tôi sẽ...
Ông 1: Cứ hỏi thoải mái.
Ông 2: [Dừng lại vài giây] Thu đã đến chưa?
Ông 1: Chưa đến, chưa đến.
Ông 2: [Ngập ngừng] Ông có...?
Ông 1: Chắc chứ, chắc chứ.
Ông 2: [Ngập ngừng, vẻ băn khoăn, rồi đột ngột ngồi trên ghế đối diện Ông 1, không xin phép trước, như thể tin này đã khiến cho ông quên hết nghi thức của mình, sau đó lại thất vọng].
Tôi hiểu rồi.
Ông 1: [Đổi đề tài] Thế vẫn còn...
Ông 2: Mùa hè Hà Nội.
Ông 1: [Gật đầu] Chính xác.
Ông 2: Ông có nhớ...?
Ông 1: Là...?
Ông 2: Vâng, tôi nghĩ thế.
Ông 1: Hồi đó chúng ta có...?
Ông 2: Hồi đó nó đã...?
Ông 1: Thực sự là có.
Ông 2: [Kéo ra một chiếc khăn tay, lau rán]. Mùa hè...
Ông 1: [Gật đầu] Vâng, mùa hè.
Ông 2: Thật là...
Ông 1: [Vẫn gật đầu] Đúng đấy.
Ông 2: [Nhìn vào quầy] Em ơi! Một càphê đen.
[Quay lại Ông 1] Vâng, tôi vừa nói...
Ông 1: Ông vừa nói...
Ông 2: Ừ, nhớ rồi... [Ngập ngừng] Thu đã đến chưa nhỉ?
(Màn bắt đầu hạ xuống)
Ông 1: [Ngập ngừng hai ba giây như suy nghĩ, rồi có cử chỉ như sắp trả lời]
(Màn từ từ hạ xuống)
Ông 1: [Không kịp trả lời trước khi màn hạ xuống hẳn].
BÀI: Vĩnh Quyền - Ký họa: Hoàng Đặng
13.11.11
Thu đã đến chưa?
Khung cảnh:
Hà Nội, đầu thế kỷ XX. Một quán café vỉa hè kiểu Pháp.
Nhân vật:
Ông 1- Người Châu Âu. Đang ngồi tại bàn có hai cái ghế bằng sắt.
Ông 2- Người Châu Âu. Cặp dưới nách tờ “Le Monde” cuộn tròn.
Hai ông đều mặc com-lê. Nói, cư xử lịch sự quá. Dù cung cách có phần không tự nhiên lắm, thậm chí lúng túng, nhưng họ vẫn cố tỏ ra thân thiện.
<Màn kéo lên>
Ông 1: [Giữa sân khấu. Đang ngồi tại bàn, hút thuốc thoải mái, chậm rãi nhấp cà phê]
Ông 2: [Từ cánh trái ra. Vừa thong thả bước vừa chú tâm tới Ông 1, ngập ngừng một lát có vẻ trầm tư. Rồi, với giọng pha niềm tiếc nuối sẽ làm phiền Ông 1, nói…]
Ông 2: Xin làm phiền ông…
Ông 1: Xin ông cứ nói.
Ông 2: Làm ơn cho tôi hỏi…
Ông 1: Mời hỏi, mời hỏi. Xin tự nhiên…
Ông 2: Hơi ngớ ngẩn một chút…
Ông 1: Thưa ông, không thể thế được.
Ông 2: Vậy tôi sẽ…
Ông 1: Cứ hỏi thoải mái.
Ông 2: [Dừng lại vài giây] Thu đã đến chưa?
Ông 1: Chưa đến, chưa đến.
Ông 2: [Ngập ngừng] Ông có…?
Ông 1: Chắc chứ, chắc chứ.
Ông 2: [Ngập ngừng, có vẻ băn khoăn. Rồi đột ngột ngồi trên ghế đối diện Ông 1, không xin phép trước, như thể tin này đã khiến cho ông quên hết nghi thức của mình. Vẻ bối rối, sau đó thất vọng.] Tôi hiểu rồi.
Ông 1: [Đổi đề tài] Thế vẫn còn…
Ông 2: [Đã quên hết vấn đề trước] Mùa hè Hà Nội.
Ông 1: [Gật đầu] Chính xác.
Ông 2: Ông có nhớ…?
Ông 1: Là…?
Ông 2: Vâng, tôi nghĩ thế.
Ông 1: Hồi đó chúng ta có…?
Ông 2: Hồi đó nó đã…?
Ông 1: Thực sự là có.
Ông 2: [Kéo ra một chiếc khăn tay. Lau trán.] Mùa hè…
Ông 1: [Gật đầu] Đồng ý.
Ông 2: Thật là…
Ông 1: [Vẫn gật đầu] Đúng đấy.
Ông 2: [Nhìn vào quầy] À, em ơi! Một cà phê đen. [Quay lại Ông 1] Vâng, tôi vừa nói…
Ông 1: Ông vừa nói…
Ông 2: Ừ, nhớ rồi… [Ngập ngừng] Thu đã đến chưa?
<Màn bắt đầu hạ xuống>
Ông 1: [Ngập ngừng hai ba giây như suy nghĩ, rồi có cử chỉ như sắp trả lời]
<Màn từ từ hạ xuống>
Ông 1: [Không kịp trả lời trước khi màn hạ xuống hẳn]
17.7.11
Chuyện xe máy và con gà trên đường Láng
Tôi vừa dừng xe máy lại bên đường chưa kịp xuống xe, chưa bỏ mũ. Bỗng tôi nhìn thấy một người đàn ông không mặc áo đang bước đến, tay phải cầm một con gà lủng lẳng, tay trái cầm một cái lồng có khoảng bốn năm con gà con như những cục bông vàng đang chiêm chiếp.
“Anh có phải là xe ôm không?” Người ấy vừa hỏi vừa cười ranh mãnh. Mất vài giây phút tôi nhìn chằm chằm vào hàm răng khè đầy chất nicôtin. Cuối cùng tôi trả lời là không, tất nhiên là không, vì tôi là người nước ngoaì. Tôi bị bối rối với một câu hỏi mà đáng lẽ không cần hỏi có thể biết luôn.
Người ấy tiếp tục bước qua tôi, vừa cười vừa nói lẩm nhẩm. Đột nhiên xe máy mình lún xuống vì một cái gì đó nặng và tôi nhận ra người lạ ấy đã ngồi lên xe tôi với cả con gà và lồng nữa. Sau khi hiểu chuyện đùa đó, tôi đồng ý. Thôi được, tôi có thể đưa anh đến nơi cần đi nhưng có phí thì anh chắc không hài lòng.
Người ấy cười lại nghiêng rất gần rồi hỏi, “Phí gì đấy?”
10.5.11
Mây bông, thang sậy
Các mây này đang bay đều là của bông tôi hái trong một cánh đồng cạnh rừng. Lội qua thân cây giòn nổ lách tách, bị sẩy vì đất cứng gồ ghề. Khi thu hoạch mẩu bông, tôi đã định mình sẽ làm cái gì đó khá đẹp.
Hãy dùng cái thang sậy này treo lên trời. Sậy của bờ hồ được buộc với rễ sen mỏng manh. Rồi nhìn xuống mặt hồ nắng chiều làm long lanh. Mây bông sẽ không tan rã, thang sậy sẽ không sụp đổ.
-Zac Herman
Nông dân đô thị thanhnien.com.vn
-Zac Herman
Nông dân đô thị thanhnien.com.vn
3.5.11
Nông dân đô thị
Tôi là nông dân đô thị sống trên mái tòa nhà apartment 8 tầng. Chính ở đây tôi trồng vườn cả ngày đêm. Cây leo cà chua quấn quanh rào chắn ban công. Mấy quả bí ngô được đặt trên cầu thang. Rễ cây quýt đâm qua vết nứt bồn tắm sứ chứa đầy đất. Những tòa nhà xung quanh hình thành thành một skyline làm tôi nhớ đến dãy núi Ba vì. Vòm cây rậm rạp ở dưới như cánh đồng xanh tươi. Các tiếng cói xe trên đường là con cò kêu lên, những con chó bị lạc là con trâu gặm cỏ.
Lúc buổi đêm tôi thỉnh thoảng nhìn vào cửa sổ những nhà hàng xóm; nhìn thấy họ đi đi lại lại chân đất qua phòng khách của mình, nhìn thấy họ xem tivi, hay cho em bé đang khóc ăn, thậm chí nhìn thấy họ nhìn chằm chằm qua cửa sổ đến hướng tôi. Khi nào thấy mệt, tôi nằm trên sân ngủ dưới màn sao sáng.
-
Sáng nay các cây đều đứng yên, trời ẩm lắm. Cả đường phố đông rồi, giọng nói công nhân bắt đầu làm việc nổi lên. Những điều này không liên quan đến tôi, không liên quan đến một nông dân đô thị.
-Zac Herman
Nông dân đô thị thanhnien.com.vn
2.5.11
Ai biết bay?
Vui lòng xem trang web mới www.zacherman.com
Tôi đã thử nhiều thứ trong đời mình rồi, nhưng chưa bao giờ thử trở nên vô hình. Tôi đã thử nhiều thứ nhưng chưa thử bay. Đêm qua thử cả hai. Tôi bước ra nhà mình lúc độ 1h sáng, khuya rồi, đi đến bờ hồ Tây. Yên tĩnh; không, lặng ngắt. Hai ba xe máy qua tôi trên phố hẹp, hai ba tia ánh sáng đâm vào đôi mắt. Tôi đứng đấy dựa mình vào rào chắn bị mờ ngắm mãi ra màu đen rộng rãi. Những ngọn đèn đường quanh hồ bên kia tạo thành một ảo ảnh ấm áp. Nó đẹp hơn bên này. Lúc đó tôi trở nên vô hình, nhưng không chỉ lúc đó mà bây giờ nữa. Không ai có thể nhìn thấy tôi. Thành công rồi. Tiếp tục với phần sau nhé. Tôi về nhà lên gác mái nhà. Sau đó nhảy ra.
-Zac Herman
Nông dân đô thị thanhnien.com.vn
Tôi đã thử nhiều thứ trong đời mình rồi, nhưng chưa bao giờ thử trở nên vô hình. Tôi đã thử nhiều thứ nhưng chưa thử bay. Đêm qua thử cả hai. Tôi bước ra nhà mình lúc độ 1h sáng, khuya rồi, đi đến bờ hồ Tây. Yên tĩnh; không, lặng ngắt. Hai ba xe máy qua tôi trên phố hẹp, hai ba tia ánh sáng đâm vào đôi mắt. Tôi đứng đấy dựa mình vào rào chắn bị mờ ngắm mãi ra màu đen rộng rãi. Những ngọn đèn đường quanh hồ bên kia tạo thành một ảo ảnh ấm áp. Nó đẹp hơn bên này. Lúc đó tôi trở nên vô hình, nhưng không chỉ lúc đó mà bây giờ nữa. Không ai có thể nhìn thấy tôi. Thành công rồi. Tiếp tục với phần sau nhé. Tôi về nhà lên gác mái nhà. Sau đó nhảy ra.
-Zac Herman
Nông dân đô thị thanhnien.com.vn
16.1.11
Quầy bán gia vị
Tôi ngồi trên bậc cửa hút thuốc. Thường ngày tôi không hút thuốc nhưng hôm nay trời lạnh đến mức tuy khói cay trong phổi nhưng lại hun ấm như lửa trại. Ở đối diện nhà tôi có một quầy hàng nhỏ lợp mái thiếc bán gia vị. Không hiểu vì sao quầy hàng này thường xuyên đóng cửa. Và vì một lí do nào đó nó khiến tôi tò mò. Tôi tưởng tượng một người ngồi đó, giữa lối ra vào, bán gia vị từ những lọ to bị lấm bụi đường. Tôi chỉ muốn hỏi người ấy một câu hỏi dơn giản như “ông làm gì đấy?” hoặc “bà bán gì đấy?” Tôi chưa nghĩ được là sẽ hỏi thêm gì nữa vì thực sự là chắc tôi sẽ không bao giờ có cơ hội hỏi gì cả. Cũng có thể vì tôi muốn khám phá hướng trò chuyện sẽ đi, không nghĩ quá nhiều trước. Khi nào đi lang thang trong trung tâm thành phố tôi cũng cố gắng theo nguyên tắc đó. Tôi hay nhờ người dân chỉ dẫn đường tuy đã biết sẽ đi đâu rồi. Thỉnh thoảng tôi ngồi xổm xuống trên vỉa hè xem người ta chơi cờ vua hoặc quan sát một đàn ông xạm da làm gì đó như đánh chìa khóa với một cái máy cũ nặng trịch, tia lửa bắn ra tứ phía. Những hình ảnh bình thường đó có một sức hút kỳ lạ kéo con người vào môi trường xung quanh mình.
Tôi vừa mải nhớ về tia vàng đó vừa rít điếu thuốc lá, một hồi lâu thấy hơi khó chịu. Hai mắt nheo lại, hai má hóp vào, vẻ mặt rất trí thức. Dựng cổ áo khoác lên che gió rồi liếc nhìn lại qua đường. Quầy bán gia vị đã mở cửa làm tôi ngạc nhiên. Ở bên trong vẫn chưa bật điện. Chỉ có nắng xám xuyên qua lối vào. Quầy không có một khung cửa sổ nào. Ở giữa lối vào nhỏ hẹp có bóng người đang ngồi trên ghế đẩu. Đôi mắt tôi nhìn chằm chằm bóng người đó và cho rằng người ấy cũng đang nhìn chằm chằm lại tôi. Tro thuốc lá rụng xuống chạm giày. Tôi cúi xuống lau tro.
-Zac Herman
Nông dân đô thị thanhnien.com.vn
Subscribe to:
Posts (Atom)